Có thể bạn chưa biết, khoảng 10 đến 15 phần trăm trẻ 02 tuổi bị chậm nói, và 04 đến 05 phần trăm trẻ vẫn chậm nói sau 03 tuổi. Khoảng 06 đến 08 phần trăm trẻ trong độ tuổi đi học (sau 06 tuổi) bị khiếm khuyết đặc hiệu về ngôn ngữ (SLI – specific language impairments) – tỉ lệ trẻ trai cao hơn trẻ gái.

Theo khuyến nghị của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP), trẻ nhỏ cần được sàng lọc đánh giá sự phát triển ngôn ngữ, một phần của kiểm tra sức khỏe tổng quát định kỳ. Việc phát triển các kỹ năng giao tiếp và ngôn ngữ là một trong các nhiệm vụ quan trọng nhất của trẻ nhỏ. Đây chính là chìa khóa để trẻ có thể học tập kiến thức và thiết lập các mối quan hệ xã hội. Những trẻ có sự trì trệ trong phát triển ngôn ngữ, sẽ khó có thể bắt kịp bạn cùng lứa cả về sự hiểu biết lẫn kỹ năng xã hội. Các kỹ năng giao tiếp của trẻ cũng bó hẹp, làm trẻ khó kết bạn, hoặc khi chơi cùng bạn, trẻ khó nói chuyện lưu loát – dễ hiểu do khả năng diễn đạt, nghe hiểu còn kém.

Một số trẻ chậm nói có thể bắt kịp tiến độ so với lứa tuổi trong những năm mầm non, nhưng cũng có trẻ vẫn sẽ kéo dài đến tuổi đi học. Việc đánh giá sớm về sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ giúp xác định chính xác khả năng ngôn ngữ của trẻ. Nếu trẻ có chậm nói thì lợi ích từ việc can thiệp sớm là rất lớn, trẻ có thể bắt kịp tiến độ với bạn cùng lứa nếu được đánh giá, tiên lượng và can thiệp phù hợp, kịp thời. Bên cạnh đó, việc đánh giá về sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ cũng giúp phát hiện sớm các rối loạn có liên quan đến tình trạng chậm phát triển về ngôn ngữ như: Rối loạn phổ tự kỷ, Chậm phát triển trí tuệ…

Hãy đưa trẻ đến gặp chuyên gia để được tiến hành đánh giá đầy đủ nhất và được đề xuất các biện pháp can thiệp sớm phù hợp với trẻ, nếu con bạn có các dấu hiệu “báo động” dưới đây:

-Sơ sinh hoặc bất kỳ lứa tuổi nào: Không phản ứng với âm thanh, đặc biệt là không phản ứng với giọng nói của cha mẹ (hoặc người chăm sóc chính).

-06 – 09 tháng: Không bập bẹ

-12 tháng: Không dùng “mama”, “baba” để gọi cha mẹ.

-15 tháng: Không nói từ đơn cụ thể hoặc gần đúng nào, mà chỉ dùng “mama”, “baba” để đòi gì đó. Ví dụ: trẻ không nói “cho” hoặc “xe” khi đòi xe, hoặc không phát âm gần giống từ “cho” là “o”. Trẻ cũng không chỉ ngón trỏ đòi vật ở xa tầm tay.

-18 tháng: Số lượng từ để đòi hỏi hoặc trả lời cha mẹ dưới 05 từ. Trẻ không làm theo được mệnh lệnh bằng lời nói. Ví dụ: khi bạn nói “Con lấy cho mẹ quả táo”, trẻ không hiểu và không làm theo, cho tới khi bạn chỉ vào quả táo.

-24 tháng: Trẻ nói ít hơn 50 từ. Trẻ không nói hai từ có nghĩa. Ví dụ: Trẻ không nói “cho con” để đòi bánh.

Ngoài ra, trẻ chậm nói cũng được khuyến cáo gặp bác sĩ chuyên khoa để được đo thính lực.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *